Số liệu mới về Đái tháo đường ở Trung Quốc: Thông cáo báo chí của IDF


Đái tháo đường

Nghiên cứu khoa học

Số liệu mới về Đái tháo đường ở Trung Quốc: Thông cáo báo chí của IDF

2013-03-29 21:16:56    

Người dịch: TS.BS. Lê Phong

Phó Giám đốc Trung tâm ĐT-CĐT

Brussels, Bỉ

Ngày 25 tháng 3 năm 2010

Giáo sư Jean Claude Mbanya, chủ tịch liên đoàn đái tháo đường quốc tế, bình luận về  phát hiện và liên quan của nghiên cứu mới ở Trung Quốc xuất bản bởi NJEM.

 

Trung Quốc hiện là đất nước có tỷ lệ lớn nhất về số người đái tháo đường.

 

Các ước lượng trước đây theo ấn bản thứ 4 của IDF xuất bản tháng 10 năm 2009 đưa ra số người ĐTĐ ở TQ là 43.2 triệu người, dựa trên các bằng chứng có giá trị nhất vào thời gian đó.

Hiện nay tình hình ĐTĐ ở TQ đã vượt qua Ấn Độ và trở thành tiêu điểm của toàn cầu bệnh bùng nổ ĐTĐ với 92.4 triệu người lớn bị ĐTĐ.

 

Một vài khác biệt giữ ước lượng cũ và mới ở TQ có thể là do sự khác biệt về phương pháp luận.

Tuy nhiên, số liệu mới chắc chắn phản ánh tốc độ tăng nhanh sự phổ biến của ĐTĐ trong vài năm gần đây.

Vì trong nghiên cứu mới chúng tôi mong muốn dự án ước lượng được số người bị ĐTĐ trong năm 2030 sẽ có thể tiến đến gần nửa tỷ người.

Tại sao có sự chênh lệch lớn giữa ước lượng cũ và mới, sự liên quan tới chính sách.

Không phải ngặc nhiên với ước lượng của nghiên cứu mới có gần gấp 2 lấn số người bị ĐTĐ ở người TQ so với trước đây. Theo số liệu IDF năm 2009 cho nghiên cứu của người TQ bởi GU năm 2003- các số liệu đáng tin cậy nhất lúc đó. Điều quan trọng được nghi nhận là IDF sử dụng mô hình phương pháp tiếp cận trước đó . Trong khi nghiên cứu mới đã được phổ biến toàn thế giới. Chúng tôi nhận thấy sự biến đổi các hình thái bệnh ĐTĐ.

Chúng tôi chào đón phát hiện của nghiên cứu mới được xuất bản trên NEJM. Phương pháp luận tốt được sử dụng rộng rãi, mẫu nghiên cứu và tiêu chuẩn vàng của phương pháp để phát hiện đái tháo đường, Xét nghiệm dung nạp đường huyết bằng đường uống, như đề nghị của WHO.

Điều này chỉ ra rằng gánh nặng của ĐTĐ toàn cầu lớn hơn nhiều so với ước trước đây. Nó làm thức tỉnh các chính phủ và nhà hoạch định chính sách hành động cho bệnh ĐTĐ một vấn đề lớn sức khỏe toàn dân.

Mức độ nhận thức ĐTĐ ở TQ.

Trên toàn thế giới có rất nhiều người bị ĐTĐ nhưng chưa được chuẩn đoán. ở một vài nước nghèo, 80% đến 90% người bị ĐTĐ chưa được chuẩn đoán, thậm chí cả ở nước thu nhập cao 30% có thể chưa được chuẩn đoán.

Ở TQ, 60.7% người chưa được chuẩn đoán. dường như kết quả này từ sự kết hợp giữ nhận thức kém và hạn chế cơ hội được chuẩn đoán.

Mọi người thường mắc ĐTĐ týp 2 trong một thời gian dài trước khi được chuẩn đoán. Với rất nhiều người, được chuẩn đoán ĐTĐ khi tiếp xúc với hệ thống sức khoẻ vì lý do khác ( ví dụ nhập viện vì cơn đau tim). Hơn nữa những người chưa được chuẩn đoán dường như đường máu sẽ không được kiểm soát và do vậy có nguy cơ phát triển thành biến chứng của ĐTĐ. nó có thể ảnh hưởng tới thị lực, thận hoặc dẫn tới cắt cụt chi hoặc đột quỵ sẽ tăng cao.

Ở TQ tăng phạm vi tỷ lệ những người chưa được chuẩn đoán. Nhưng điều này cần nhắc lại do thiếu nguồn nhân lực quản lý và điều trị số lượng lớn người bị ĐTĐ. chuẩn đoán càng nhiều trường hợp bệnh nhân mà không có khả năng tăng khả năng chăm sóc, sẽ ít cải thiện cuộc sống của người ĐTĐ.

 

Hệ thống y tế của TQ được trang bị như thế nào để kiểm soát ĐTĐ, thách thức và tầm quan trong của giáo dục, cải thiện chăm sóc sức khoẻ ban đầu

Theo sự hợp tác với các tác giả y tế của TQ, chúng tôi thấy rằng TQ đã giao phó cải thiện chăm sóc ban đầu ( ví dụ như phân chia về bệnh ĐTĐ và các bệnh khác cho người dân ở các phòng khám, phòng khám đa khoa...) và  nhiều hình thức giáo dục và chăm sóc ( ví dụ chăm sóc sức khoẻ đã cung cấp tới người dân bị ĐTĐ bởi đội ngũ chuyên gia với các phương pháp rèn luyện khác nhau như là giáo dục an uống bệnh nội tiết ...)

 

Nhiều chương trình tuyệt vời đã được cung cấp ở một số vùng của TQ như là Bắc Kinh và Thượng Hải. Tuy nhiên, toàn bộ số lượng lớn người ĐTĐ  hiện nay vẫn là một thách thức lớn.

Mốc nghiên cứu in TQ vào năm 1997 chỉ ra công việc của dự phòng. Nghiên cứu của Da Qing chỉ ra rằng tăng hoạt động thể lực và cải thiện chế độ ăn uống giảm tác động vào ĐTĐ týp 2, gần đây, theo một nghiên cứu đã chỉ ra ảnh hưởng kéo dài tới sau 20 năm.

 

Thách thức hiện nay của TQ và tất cả các nước là tìm ra cách giúp mọi người tăng hoạt động thể lực và thay đổi chế độ ăn. Đòi hỏi có sự tích hợp các phương pháp tiếp cận và bao gồm các lĩnh vực liên quan đến sức khoẻ ví dụ nó ảnh hưởng tới khu vực thành thị và chế độ ăn.

IDF là thành viên kết hợp với hội ĐTĐ TQ, hiện đang làm việc với các văn phòng về sức khoẻ TQ để thúc đẩy giáo dục và tự quản lý tình hình, đó là điều sống còn để loại bỏ bệnh ĐTĐ

Thay đổi lối sống khi bị bệnh để khắc phục tình trạng bệnh nhiễm trùng ở nước đang bị bệnh, ảnh hưởng tới kinh tế,

Ở nhiều nước như là TQ và Ấn độ, là những nước phát triển nhanh về kinh tế, chúng ta nhận thấy sự thành thị hoá, thay đổi chế độ ăn và lối sống ngồi nhiều tăng. Đây là các yếu tố tăng nhanh nguy cơ của phát triển ĐTĐ týp 2.

 

Bằng chứng chỉ ra gánh nặng của ĐTĐ tiếp tục thay đổi giữa nước có thu nhập thấp và trung bình, chắc chắn vấn đề ĐTĐ vẫn tăng. WHO dự đoán rằng Ấn độ và TQ mất tương ứng 236.6 tỷ USD và 577.7 tỷ USD thu nhập quốc gia cho ĐTĐ và bệnh tim mạch từ năm 2005 đến 2015.

Theo ước lượng của IDF, số lượng đang tăng ở TQ sẽ tăng phí tổn chăm sóc sức khoẻ về ĐTĐ năm nay sẽ tăng từ 1.9 tỷ USD có thể đạt đến 6.9 USD.

 

Các nhà hoạch định chính sách cần phối hợp kế hoạch để dự phòng ĐTĐ trong hệ thống chăm sóc sức khỏe, các nước phải tìm cách phát triển kinh tế theo cách không ảnh hưởng tới sức khoẻ, đòi hỏi tăng nhận thức và chế tài để giúp mọi người tăng hoạt động thể lực và ăn uống thích hợp.

mọi người cần phải được giúp đỡ và nỗ lực có lựa chọn tốt cho sức khoẻ, và môi trường được thay đổi theo cách trợ giúp vấn đề trên.

Tìm kiếm

hỗ trợ trực tuyến

(04) 385.33527

  • Hỗ trợ bằng yahoo
  • Hỗ trợ bằng yahoo
  • Hỗ trợ bằng skype

Đái tháo đường